Hành Quân Long Reach
(Kiềm vĩ kích thủ)

Hành Quân Long Reach do Sư Đoàn 1 Không Kỵ Mỹ thực hiện tại khu vực Chuprong-Iadrang, Cao Nguyên, Việt Nam từ 27 tháng 10 đến 26 tháng 11 năm 1965. Tên quen thuộc hơn là Pleiku campaign. Cuộc hành quân triển khai qua ba cuộc hành quân: All the Way do Lữ Đoàn 1 thực hiện từ 27 tháng 10 đến 9 tháng 11; Silver Bayonet I do Lữ Đoàn 3 thực hiện từ 9 đến 18 tháng 11; và Silver Bayonet II do Lữ Đoàn 2 thực hiện từ 18 đến 26 tháng 11. Trận Ia Drang, bao gồm trận LZ X-Ray (14 đến 16 tháng 11) và LZ Albany (17 đến 18 tháng 11), xảy ra trong thời kỳ của hành quân Silver Bayonet I.(1)

Đây là một cuộc hành quân liên hợp Việt-Mỹ với Quân Đoàn II phụ trách phần khái niệm hành quân và tình báo và với Sư Đoàn 1 Không Kỵ điều khiển các toán quân và tiếp vận.(2)(3)

Khái niệm hành quân của Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II là xử dụng oanh tập B-52 tiêu diệt ba trung đoàn Bắc Việt -32, 33 và 66 – vào thời điểm chúng tập trung tại rặng núi Chu Prong để chuẩn bị tấn công trại Pleime lần thứ hai.(4) Hành động không quân được hỗ trợ bởi lực lượng bộ binh của không kỵ ghim các toán quân địch trở thành các mục tiêu thích ứng cho các oanh tập B-52. Tướng Richard Knowles, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Không Kỵ Tiền Phương, mô tả các thế điều quân đổ bộ các toán quân tại LZ X-Ray như "chộp hổ đằng đuôi" và di chuyển toán quân đến LZ Albany như "chộp hổ đằng đuôi từ một hướng khác".(5)

Bối Cảnh

Sau khi thất bại "công đồn đả viện" tại Pleime, Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B3 Bắc Việt ra lệnh cho hai Trung Đoàn 32 và 33 rút lui về hậu cứ tại vùng rặng núi Chu Prong. Hai trung đoàn này sẽ đoàn tụ với Trung Đoàn 66 để toan tính tấn công trại Pleime lần thứ. Lần này, chủ lực tấn là Trung Đoàn 66 được tăng phái với một tiểu đoàn súng phòng không hai nòng 14,5 ly và một tiểu đoàn bích kích pháo 120 ly.(6)

Quân Đoàn II thu hoạch được những thông tin thiết yếu này qua nguồn tình báo kiểm thính các liên lạc giữa các cố vấn Tàu hoạt động tại cấp trung đoàn(7) và bản doanh cố vấn Tàu thiết lập tại Nam Vang để hỗ trợ cho Mặt Trận B3 về mặt tiếp vận.(8) Các cố vấn Tàu đàm thoại vô tư bằng tiếng Quan Thoại,(9) không ý thức được là phía Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà nghe ngóng các cuộc điện đàm của họ. Nguồn tình báo này được bảo mật; cả phía Việt Cộng lẫn phía Hoa Kỳ đều lầm tưởng là các "điệp viên đặc biệt thuộc QLVNCH".(10)(11) Nguồn tin tình báo này cho phép hoạch định mọi khía cạnh của các cuộc hành quân trên căn bản "tin tình báo tức thời" cũng như lập thời khóa biểu cho năm ngày oanh tập B-52.(12) Đại Tá Hiếu xác nhận là "sự nắm vững tình hình địch đã làm cho trận chiến phát triển đến một mức độ và quy mô tối đa đồng thời đem lại những chiến công lớn nhất từ trước đến nay của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Đồng Minh."(13)

Thông thường thì Trưởng Ban 2 và Trưởng Ban 3 của MACV đảm trách thiết kế hoạch oanh tập B-52, với Trưởng Ban 2 điều nghiên và chọn lựa các mục tiêu bao gồm các hậu cứ tiếp liệu và/hay tập trung quân lính dựa vào tin tình báo. Trong trường hợp của cuộc hành quân Long Reach, các toán quân địch bị Quân Đoàn II khuyến dụ trở thành mục tiêu dựa vào nguồn tình báo của Quân Đoàn. Phần thi hành gồm ba giai đoạn sau: thiết lập, ghim và oanh tập mục tiêu.

Ngày 26 tháng 10 năm 1965, Quân Đoàn II yêu cầu các toán quân Mỹ trợ giúp trong việc thực hiện một cuộc hành quân trục lợi tiếp sau chiến thắng tại Pleime. Trọn Sư Đoàn 1 Không Kỵ được tăng phái cho lực lượng Quân Đoàn II. Cuộc hành quân liên hợp Việt-Mỹ được đặt tên là Long Reach (dịch từ Trường Chinh) và được thi hành trong khuôn khổ một phương thức đặc biệt bao gồm "chung: tình báo và quan niệm; riêng rẽ: vùng hành quân, chỉ huy, điều động diễn tiến và trừ bị."(2) Một Bộ Chỉ Huy Tác Chiến Sư Đoàn 1 Không Kỵ, dưới sự lãnh đạo của Chuẩn Tướng Richard Knowles, được thiết lập cạnh bên bản doanh Quân Đoàn II.(14) Vùng hành quân của Sư Đoàn 1 Không Kỵ được nới rộng cho toàn khu vực Chuprong-Iadrang, ngoại trừ lân cận trại Pleime được duy trì dưới trách nhiệm QLVNCH để trông bề ngoài ra vẻ yếu kém ngõ hầu cám dỗ địch quân tấn công trại lần thứ hai.(15)

Thực Hiện

Hành quân Long Reach khởi động ngày 27 tháng 10 với sự tham gia của Lữ Đoàn 1 Không Kỵ

= Hành Quân All the Way (27 tháng 10 đến 9 tháng 11)

Sứ mạng của cuộc hành quân là lùa các toán quân đang rút lui của Trung Đoàn 32 và 33 trở về hậu cứ trong rặng núi Chu Prong; tại đây hai trung đoàn sẽ liên kết lực lượng với Trung Đoàn 66.

Ngày 27 tháng 11, các toán trực thăng Diều Hâu phát xuất từ Sư Đoàn 1 Không Kỵ bắt đầu hành động. Trực thăng bay trên bàu trời toàn vùng truy lùng địch quân. Khi tìm thấy địch, các đơn vị này bị tấn kích. Các chiến thuật này buộc địch quân di chuyển không ngừng. (16) Vào cuối ngày này, các đơn vị tiền phương của Trung Đoàn 32 tiến tới vùng tập trung tiền phương tại làng KRO. Ngày 28 tháng 10, toàn thể Trung Đoàn 32 đặt chân tới mạn bắc sông Ia Drang. Ngày 31 tháng 10, các đơn vị địch quân tiếp tục tan rã và tách ra từng toán nhỏ trong khi tiến về hậu cứ tại chân rặng núi Chu Prong. Ngày 1 tháng 11, các toán quân Không Kỵ khám phá và hủy diệt một bệnh xá dã chiến VC; và bản doanh Trung Đoàn 33 đã tới hậu cứ tại làng Anta, nhưng phần lớn trung đoàn còn trải dài từ Pleime đến Chu Prong. Ngày 2 tháng 11, Trung Đoàn 66 bắt đầu di chuyển vào các vùng tập trung trong khu vực Chuprong-Iadrang. Ngày 3 tháng 11, các toán quân Không Kỵ phục kích Tiểu Đoàn 8 thuộc Trung Đoàn 66 mới vừa xâm nhập, trong khi Trung Đoàn 33 vẫn còn đang nỗ lực lôi kéo các đuôi đầy thương tích về mật khu Chu Prong, Ngày 4 tháng 11, Trung Đoàn 33 di chuyển ra khỏi hậu cứ tại Đồi 732 đế chiếm ngự các vị trí từ Đồi 732, xuống tới mạn bắc sông Ia Meur trong khi các mảnh vỡ vẫn còn tiến về hướng tây. Tiểu đoàn hậu vệ, vì khởi hành sau và di chuyển chậm chạp hơn mọi đơn vị khác vẫn còn ở phía đông của các vị trí Không Kỵ. Ngày 6 tháng 11, Trung Đoàn 66 tiếp tục tiến vào các vùng tập trung và Trung Đoàn 33 ngóng chờ các lực lượng tan vụn kết tụ về lại với đơn vị mẹ. Trong khi đó, Trung Đoàn 32 và Tư Lệnh Mặt Trận Dã Chiến, đóng tại phía bắc Ia Drang, gần kề biên giới Căm Bốt. Ngày 7 tháng 11, Trung Đoàn 33 suy nhược đợi chờ nhóm tàn quân về tới. Ngày 8 tháng 11, chỉ còn các đơn vị mảnh vỡ và các nhóm tàn quân vẫn sót lại phía đông mật khu Chuprong-Iadrang. Ngày 9 tháng 11, bản doanh Mặt Trận Dã Chiến B3 đóng tại phía bắc Ia Drang và Trung Đoàn 33 tập hợp xong các đơn vị cuối cùng.(17)

Tấc cả các nỗ lực lùa địch đều do các toán bay Diều Hâu hoàn thành. Trong giai đoạn này, bộ chiến của Không Kỵ thuộc các Tiểu Đoàn 2/12, 1/8, 1/12 và 2/8 chỉ có một số ít – 9 lần – đụng độ với địch.(18)

Giai đoạn lùa địch chấm dứt. Tuy nhiên, mặc dù các đơn vị địch quân đã tụ họp trong vùng rặng núi Chu Prong, chúng vẫn còn tản mác trong tư thế phòng thủ khiến các oanh tập B-52 vô hiệu quả. Tiếp đến là giai đoạn khuyến dụ các đơn vị địch sát lại nhau gần hơn và trở thành các mục tiêu cho các oanh tập B-52.

= Hành Quân Silver Bayonet I (9 đến 18 tháng 11)

Ngày 9 tháng 11, Lữ Đoàn 3 Không Kỵ thay thế Lữ Đoàn 1 Không Kỵ và thực hiện cuộc hành quân Silver Bayonet I. Sứ mạng của cuộc hành quân là thiết lập các mục tiêu cho oanh tập B-52.

Lữ Đoàn 3 Không Kỵ nhận được lệnh hoán chuyển hướng hành quân từ tây sang đông như thể đánh lạc mất các vị trí địch quân. Mặt Trận Dã Chiến B3 mắc mưu kế và quyết định khởi công chuẩn bị tấn công trại Pleime lần thứ hai. Ngày 11 tháng 11, cả ba trung đoàn được lệnh nhập vào các vùng tập trung để tái tổ chức, tái trang bị và tập trận sửa soạn tấn công. Ngày tấn công được ấn định vào ngày 16 tháng 11.(19) Sự thu gom các toán quân vào các vùng tập trung khiến cho chúng trở thành mục tiêu cho oanh tập B-52. Trưởng Ban 3/MACV được thông báo chuyển động tiến trình oanh tập B-52. Đợt bom đầu tiên sẽ được thả tại điểm cách LZ X-Ray khoảng 7 cây số rưỡi về hướng tây và thời điểm tại mục tiêu được ấn định vào lúc 16 giờ ngày 15 tháng 11.(20) Ngày 12 tháng 11, Tiểu Đoàn 1/7 được lệnh sẵn sàng đổ bộ tại rặng núi Chu Prong trong thế nghi binh.(21) Ngày 13 tháng 11, đương khi một số đơn vị trinh sát và đơn vị vận tải đã di chuyển ra khỏi các vùng tập trung, Tiểu Đoàn 1/7 được lệnh đổ bộ tại phía đông chân rặng núi Chu Prong và thực hiện một cuộc hành quân tới ngày 15 tháng 11 (22) với dụng ý khuyến dụ Mặt Trận Dã Chiến B3 đình trệ di chuyển các toán quân ra khỏi các vùng tập trung tới một khoảng thời gian sau khi oanh tập B-52 khởi động.(23) Ngày 14 tháng 11, một số đơn vị xung kích thuộc lực lượng Mặt Trận Dã Chiến B3 khởi sự di chuyển ra khỏi các vùng tập trung.(24) Vào lúc 10:48 giờ, các đơn vị dẫn đầu của Tiểu Đoàn 1/7 Không Kỵ tới LZ X-Ray sau một trận 30 phút hỏa lực gồm pháo binh, hỏa tiễn trực thăng và oanh kích máy bay. Điểm đổ bộ cách khoảng 200 thước từ vị trí của Tiểu Đoàn 9 thuộc Trung Đoàn 66. Mặt Trận Dã Chiến B3 đã mắc mưu và quyết định phản công chống lại mối đe dọa mới với hai tiểu đoàn – 7 và 9 thuộc Trung Đoàn 66 – đồng thời ra lệnh cho Trung Đoàn 32 và 33 duy trì vị trí tại các vùng tập trung.(25) Lữ Đoàn 3 Không Kỵ đáp ứng bằng cách tăng phái Tiểu Đoàn 2/7 và 2/5 Không Kỵ; Tiểu Đoàn 2/7 đổ bộ xong vào lúc 9:10 giờ và Tiểu Đoàn 2/5 vào lúc 12:05 giờ ngày 15 tháng 11.(26) An ninh của Tiểu Đoàn 1/7 Không Kỵ còn được bảo đảm thêm bằng một vòng đanh thép hỏa pháo và bằng các tấn kích không quân 24 trên 24 tiếng bắn phá mọi nẻo đường tới lui bãi đáp để ngăn chận Trung Đoàn 32 và 33 gia nhập trận chiến.(27) Oanh tập B-52 khởi động lúc 16:00 giờ và trút bom xuống các vị trí của Trung Đoàn 32 và 33 trong hai ngày 15 và 16 tháng 11. Tiểu Đoàn 1/7 Không Kỵ dời khỏi LZ X-Ray trưa ngày 16 tháng 11 và được thay thế bởi Tiểu Đoàn 2/7 và 2/5. Sáng ngày 17 tháng 11, hai tiểu đoàn này dời bỏ LZ X-Ray và lội bộ tới LZ Albany và LZ Columbus trong một thế tác chiến "chộp hổ đàng đuôi từ một hướng khác"(5) để cho phép trải thảm bom xuống các vị trí của các đơng vị thuộc Trung Đoàn 66 còn nán lại quanh vùng LZ X-Ray.(28) Các toán quân Không Kỵ bị tổn thất nặng tại LZ X-Ray và LZ Albany vì địch quận vận dụng nhiều chiến thuật "biển người".(29)

Oanh tập B-52 tiếp diễn hai ngày nữa khắp mật khu Chuprong-Iadrang từ tây sang đông khiến cho vùng rừng rậm không còn hữu hiệu cho ẩn núp vào che đậy. Tình báo Quân Đoàn II ước tính các cuộc oanh tập B-52 khiến cho 2/3 lực lượng địch bất khả dụng. Số quân sống sót của lực lượng Mắt Trận Dã Chiến B3 chỉ còn có một hàng lang eo hẹp dọc theo sông Ia Drang để tẩu thoát sang Căm Bốt.(30)

= Hành Quân Silver Bayonet II/Hành Quân Thần Phong (18 đến 26 tháng 11)

Ngày 18 tháng 11, Lữ Đoàn 2 Không Kỵ được lệnh di chuyển đến LZ Crooks để "chộp hổ đằng đuôi từ một hướng khác"(5) và giúp Lữ Đoàn Dù Việt Nam tiêu diệt hai tiểu đoàn – 334 và 634 – còn lại của Trung Đoàn 32. Lữ Đoàn 2 Không Kỵ tiếp tục gây áp lực từ đồng sang tây và thiết lập một căn cứ hỏa pháo tại LZ Crooks với Tiểu Đoàn 2/17 Pháo Binh để yểm trợc cho cuộc hành quân Thần Phong; căn cứ hỏa lực được Tiểu Đoàn 2/5 Không Kỵ bảo an.(30)

Lữ Đoàn Dù Việt Nam tiêu diệt ba trung tâm huấn luyện, một kho tàng quân dụng và 75 căn nhà. Quân Dù cũng giết 265 VC và tịch thâu 52 súng ống đủ loại trong hai trận phục kích ngày 20 và 24 tháng 11. Ngày 26 tháng 11, khi không còn đụng độ với địch quân đã thoát chạy sang mật khu Căm Bốt, Lữ Đoàn Dù Việt Nam và Sư Đoàn 1 Không Kỵ dời bỏ vùng hành quân.(31)(32)


- (1) Kinnard, William (1966), Pleiku Campaign, After Action Report, trang 1
- (2) Vinh Loc (1966), Why Pleime, Viet Nam: Information Printing Office, trang 119
- (3) Knowles, Richard (1983), LZ X-Ray Battle, trang 7
- (4) McChristian, J.A. (1966), Intelligence Aspects of Pleime/Chupong Campaign, J2/MACV, trang 6
- (5) Knowles, trang 6
- (6) Vinh Loc, trang 80
- (7) Mohr, Charles, Three Prisoners Tell Of Aid From China North Vietnamese Also Say Cambodians Helped Them, The New York Times, (16 November 1965): Tù binh Bắc Việt nói hôm nay là các đơn vi ̣họ tiếp nhận sự trợ giúp từ lính Miên trong khi xâm nhập vào Nam Việt Nam và mỗi trung đoàn xâm nhập có một cố vấn Trung Cộng.
- (8) Vĩnh Lộc (1966), Pleime Trận Chiến Lịch Sử, Viet Nam: Bộ Thông Tin, trang 124
- (9) Moore, Harold G. & Joseph L. Galloway (1992), We Were Soldiers Once ... and Young — Ia Drang: the battle that changed the war in Vietnam, New York, New York: Harper Perennial, ISBN 0-06-097576-8, trang 64
- (10) Kinnard, trang 46
- (11) Coleman, J.D. (1988), Pleiku, The Dawn of Helicopter Warfare in Vietnam, New York: St.Martin's Press, trang 119
- (12) McChristian, trang 2
- (13) Vĩnh Lộc, trang 94
- (14) Kinnard, trang ii
- (15) G3 Journal/I Field Force Vietnam, November 14–26, 1965 [1], [2], [3], [4] (tài liệu lưu trữ tại National Archive, Maryland), 10/30/65 entry
- (16) Vinh Loc, trang 76
- (17) McChristian, trang 16-40
- (18) Coleman, trang 189
- (19) Kinnard, trang 67-76
- (20) Kinnard, trang 89
- (21) Coleman, trang 196
- (22) Coleman, trang 199
- (23) Kinnard, trang 82
- (24) Kinnard, trang 85
- (25) Nguyễn Hữu An (2005), Chiến Trường Mới, Hồi Ức, Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, trang 34
- (26) Vinh Loc, trang 88
- (27) Knowles, trang 4
- (28) Kinnard, trang 94
- (29) Vinh Loc, trang 92
- (30) Vinh Loc, trang 97
- (31) Vinh Loc, trang 103
- (32) Kinnard, trang 120

Nguyễn Văn Tín
Ngày 15 tháng 11 năm 2017

Tài liệu tham khảo

- Chính

- Sách báo

* Pleiku, the Dawn of Helicopter Warfare in Vietnam, J.D. Coleman, St. Martin's Press, New York, 1988.

* We Were Soldiers Once… and Young, General Harold G. Moore and Joseph L. Galloway, Random House, New York, 1992.

* "First Strike at River Drang", Military History, Oct 1984, pp 44-52, Per. Interview with H.W.O Kinnard, 1st Cavalry Division Commanding General, Cochran, Alexander S.

* The Siege of Pleime, Project CHECO Report, 24 February 1966, HQ PACAF, Tactical Evaluation Center.

* Silver Bayonet, Project CHECO Report, 26 February 1966, HQ PACAF, Tactical Evaluation Center.

- Việt Cộng

generalhieu