Đại Tá Trần Văn Tự

- Sinh tháng 2 năm 1927 tại Pháp

- Nhập ngũ ngày 4-8-1951

- Xuất thân trường sĩ quan Võ Bị Đà Lạt K5

- Tỉnh Trưởng Phan Rang

- Tỉnh Trưởng Ninh Thuận, Phụ Tá Lãnh Thổ Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn III tại mặt trận Phan Rang (9/4/1975)


Đại Tá Trần Văn Tự sinh tháng 2/1927 tại Pháp.” Thân sinh của ông là Giáo Sư Trần Văn Thạch, sinh trưởng tại Phú Lâm, Chợ Lớn, Nam Phần. Ông du học tại Toulouse (Pháp) và đă viết báo “Le Journal des Etudiants Annamites” bày tỏ chí hướng và nguyện vọng thiết tha của người thanh niên Việt Nam mong muốn nước nhà được độc lập. Ông hoạt động trong nhóm Đệ Tứ của ông Tạ Thu Thâu. Về nước ông tích cực hoạt động chính trị và dùng cơ quan ngôn luận là tờ báo “La Lutte” làm lợi khí nêu rơ lập trường tranh đấu của ông. Năm 1937 ông được đắc cử vào Hội Đồng Thành Phố Sàig̣n. Sau đó ông bị nhà cầm quyền Pháp kư giấy tống giam v́ những bài báo ông đả kích chính sách cai trị của người Pháp tại Việt Nam. Năm 1945 ông bị thủ tiêu lúc 40 tuổi. Ông được đặt tên đường Trần Văn Thạch thay tên cũ là Vassoigne bên hông chợ Tân Định.”

Đại Tá Tự lúc c̣n Trung Tá ông là Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Được cử theo học khóa Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp tại Trường Đại Học Quân Sự Đà Lạt. Năm 1969 ông nhận chức Tỉnh Trưởng/Tiểu Khu Trưởng Ninh Thuận.

Sau khi Miền Nam bị bức tử, Đại Tá Tự đă tŕnh diện Ủy Ban Quân Quản Sàig̣n, bị tù tập trung “cải tạo” của Cộng Sản từ Nam ra Bắc 12 năm, 3 tháng, được về nhà năm 1987 nhân lễ 2/9 của Việt Cộng.

Đại Tá Tự sang Hoa Kỳ vào cuối tháng 2/1992 theo chương tŕnh tị nạn qua danh sách HO.10. Nhân dịp tiếp xúc với Đại Tá, người viết mong biết được quyết định xuất gia vào chùa của Đại Tá th́ ông cho biết: Có 3 lư do để ông xuất gia:

1. Không muốn làm con cờ trên bàn cờ quốc tế nữa.

2. Sám hối những tội lỗi v́ không giữ được Miền Nam.

3. Trong khi vượt thoát khỏi mặt trận Phan Rang và trong thời gian tù đày hơn 12 năm, ông nhờ Phật pháp mà vượt qua nhiều khổ nạn và tỉnh ngộ rằng “mọi việc do tâm”. Đại Tá Trần Văn Tự xuất gia cuối tháng 12/1999, thọ giới Sa Di (10 giới), pháp hiệu là Tỳ Kheo Thích Không Chiếu.

Hồ Đắc Huân

Nguồn Những biến cố lịch sự từ 1-16/4/1975 tại PHANRANG NINH THUẬN