Đại Tá Tôn Thất Hùng

Trưa hôm nay, tôi đã được một ngạc nhiên thích thú khi nhận được một phong bì dày gởi thêo media mail với tên của bạn trên phong bì, và nhất là do sự giới thiệu của Minh "tồ" - Trình Hữu Minh, Tham Mưu Phó Quân Đoàn II -, một bạn già thân thiết ngoài đới cùng nghiệp nhà binh và ở trong tù VC.

Tôi chưa đọc ngay quyển sách này, vì tôi muốn gởi ngay là thư cám ơn này; rồi tôi sẽ đọc sau.

Tôi được biết, rồi quen, với ông Hiếu như sau:

- 1958-1960: ông Hiếu lúc đó là Thiếu Tá, Trưởng Phòng 3/Quân Đoàn I. Tôi là Đại Úy, TMP/SĐ2 (tôi là TMP/Quân Khu 3 mới "bị" đổi từ Pleiku về VICT) do Tướng Đôn đưa về làm TMP cho Đại Tá Dương Văn Lắm, TL/SĐ2. Ông Hiếu và tôi đều cùng ở Cư Xá Đoàn Kết.

- Tháng 9/1964: Khi tôi đang là Thiếu Tá TMT/SĐ22 ở Kontum thì Đại Tá Hiếu, TMT/QĐII, được Tướng Trí cử làm TL/SĐ22 thay Thiếu Tướng Linh Quang Viên, đổi về Saigon. Ông Hiếu chỉ làm TL/SĐ22 hơn một tháng, rồi về làm lại TMT/QĐII.

- Tháng 4/1965: Chuẩn Tướng Nguyễn Thanh Sằng, CHT/TTHQ/Quang Trung được Tướng Khánh cử làm TL/SĐ22 (lần thứ 2), thì tôi "bị ̣đẩy" khỏi chức vụ TMT/SĐ22 (vì không biết tham nhũng) và hoàn lại BTL/QĐII. Trung Tá Võ Xuân Quang, TMP/QĐII được về Saigon làm Phụ Tá Đô Trưởng, nên tôi được cử làm TMP/QĐII (TMT: Đại Tá Hiếu).

- Tháng 3/1968: Khi tôi làm (Đại Tá) TMT/QĐII cho ông Lữ Lan, thì ông Hiếu đã là Chuẩn Tướng, TL/SĐ22. Noel 1968, tôi bay (trực thăng) từ Pleiku về Bà Gi nghỉ đêm tâm tình với Tướng Hiếu.

- Tháng 4/1975: lần tôi gặp cuối cùng thì ổng đã là "cố" Trung Tướng và tôi đến từ giả ổng tại Cư Xá Chí Hòa và cùng khóc với Bà Hiếu.

Là người điềm đạm, quân tử và kỷ luật. Tuy qua đời vào tuổi trung niên (45 hay 46 gì đó - tôi đã 50 vào tháng Tư đen 1975), ổng quả là "Tướng" đúng theo từ ngữ của chữ này.

Thân mến,
Tôn Thất Hùng


Bài tham dự số: 144-VB0119
Người viết: Tôn Thất Hùng

Tác giả 77 tuổi. Trước 1975: sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà; Cấp bậc: Đại Tá. Chức vụ: Tham mưu trưởng Quân Đoàn II (1968). Sau 1975, đi tù cộng sản tại miền Bắc và Long Khánh gần 13 năm. Đến Mỹ từ 1971. Hiện định cư tại San Jose, Bắc California. Bài viết của ông là câu chuyện về t́nh bạn giữa hai sĩ quan đồng minh Việt-Mỹ, suốt 38 năm, trên cả hai đất nước Việt Nam và Hoa Kỳ.

*

PLEIKU, CAO NGUYÊN, VIỆT NAM
Ngày 14 / 3 / 1962

“Thưa Thiếu Tá, tôi là Thiếu Tá Hassinger, được cử làm “Cố Vấn” cho Thiếu Tá... Thú thật, tôi xin ‘học nghề với thiếu Tá’. Ông rất sành sỏi về cao nguyên và đây là nhiệm kỳ thứ tư của Ông tại Ban Mê Thuột-Pleiku"”
“Xin chào Thiêu Tá Hassinger và Welcome ông đến Cao Nguyên Việt Nam.” Tôn nh́n thẳng người đối diện.
Đó là một trung niên Mỹ trắng, khoảng trên 40, đeo kính trắng và để râu mép. Đúng là một counterpart (đối nhiệm) theo đúng nghĩa chính và nghĩa bóng: Cả hai đều có tên bắt đầu bằng mẫu từ H, đều mang cấp hiệu Thiếu Tá, đều trên 1 thước 7 và trên 75 kư, đều mang kính trắng và đều có để ria mép(1). Cả hai trung niên đều để tóc ngắn 1 phân, có thân h́nh rắn chắc và rám nắng.
Hôm ấy là 14 tháng 3, sinh nhật con trai thứ ba của Tôn, vừa được 4 tuổi.
“Thưa Thiếu Tá, tôi có chút quà kỷ niệm đem từ Mỹ qua. Biết là Thiếu Tá thích loại Ropp, nhưng tôi chỉ có cái pipe hiệu Briar này, cùng lon “Captain Black (thuốc pipe) và gói (x́ gà) La Havana.”(2)
“Xin Cám ơn Thiếu Tá. Ngày mai, tôi “vào” thăm một đơn vị Thám kích, ở ‘rẫy Gia Long’(3), đang tiếp tay cho SĐ 9 quét Mật khu Kon Hà Nừng.(3)
“OK! tôi sẽ đi với Thiếu Tá”.
Rồi Tôn cho Hassinger biết thêm: Thám kích cũng chỉ là một đơn vị Bộ Binh mà hàng hạ sĩ quan và binh sĩ được tuyển chọn từ các sắc dân Thượng, với ṇng cốt là Rhadé, Djarai và H’re. Tôn và Đại Úy Vũ Viết Sinh(4) là tác giả đề án đă khai sinh ra thám kích, căn cứ theo mô h́nh của Unité Légère de Brousse (Đơn vị vũ trang nhẹ để băng rừng) của Pháp trước 1954, và các toán Eagle Flight Team (đội Diều Hâu) của Mỹ sau này, với nhiệm vụ bám địch trong rừng rậm của Cao Nguyên, với nguyên tắc là, nếu phải giao tranh, th́, đánh nhanh và rút gọn. Đây là phương tiện thiết thực kiểm chứng tin tức (bằng người) trên chiến trường, mà Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 đă thuyết phục được Bộ TTM và US/MACV thành lập riêng cho vùng 2 chiến thuật, và Sư Đoàn 22 và 23 cùng các tiểu khu ở Cao Nguyên trực tiếp điều khiển và sử dụng.
. . .

“Tư râu! Tư râu!(5)
“5 trên 5”
“Sẽ đón “Tư Râu” ở hướng 2 giờ. Có cần khói không" (6)
“Khỏi”
Dăm phút sau, trực thăng “sâu róm” Chinook đưa Tôn và Hassinger cùng vài sĩ quan tham mưu đáp xuống chỗ nghỉ quân của thám kích.

PLEIKU, tháng 7 / 1962

Tôn từ trong nhà bước ra sân trước (dăy nhà sĩ quan, cạnh Ṭa Án Pleiku) th́ rất ngạc nhiên, thấy Hassinger ngồi chờ trên xe jeep.
“Hello, bạn đi đâu đó" Cần (cái) ǵ, mà không phone cho tôi"”
“Tôi đến mừng bất ngờ sinh nhật thứ 37 của bạn!”
“Tốt quá, xin mời bạn vào nhà.”
“Nhân tiện, có món quà, và Happy Birthday!”
Đó là chiếc radio panasonic hiệu National 9 băng của Nhật. Sau đó, Hassinger chụp nhiều tấm h́nh gia đ́nh Tôn, khi th́ toàn bộ, khi th́ chỉ riêng vợ chồng Tôn.
Buổi chiều tối chủ nhật ấy là buổi tiệc nhỏ cả gia đ́nh Tôn vui vẻ bên Hassinger với con cochin de lait (heo sữa) quay tại nhà. Trong dịp này, Hassinger ngỏ ư xin bớt một trong 3 con trai của Tôn, đưa về Mỹ cho ăn học và trả lại Tôn khi được 18 tuổi, nhưng các con trai của Tôn không chịu đi, mặc dù lúc ấy c̣n nhỏ (8 tuổi, 6 tuổi, và 4 tuổi) chưa biết ǵ.
FORT ORD, đầu tháng 5 / 1963.

- “Xin lỗi quư vị trong Phái Đoàn, tôi muốn gặp Thiếu Tá Tôn.
“Dạ, tôi là Tôn đây.
”Tôi là Đại Úy Moorlick, tôi được bà Thiếu Tá Hassinger nhờ đến “đón chuyến xe lửa “ tối nay, để mời Thiếu Tá về dùng cơm tối nay tại nhà Bà; Bà Thiếu Tá nhắn thêm, rằng Thiếu Tá có thể rủ “thêm bạn bè cùng về dùng cơm cho vui.”
Quả thật là một sự ngạc nhiên thích thú đă “phục kích” Tôn trong chuyến Du hành Quan Sát một tháng tại Hoa Kỳ, viếng thăm vài cơ sở chỉ huy và huấn luyện đặc biệt của Hoa Kỳ, trong phái đoàn do vị Cục Trưởng Cục ANQĐ lúc ấy hướng dẫn và Tôn là phụ tá.
Trong phái đoàn, có Thiếu Tá Trần Văn Kính, Cục Phó Cục ANQĐ, Đại Úy Nguyễn Văn Khuyến, Chánh sở 3 ANQĐ và Đại Úy Nguyễn Văn Nghị, làm thông dịch viên cho Trưởng Phái Đoàn (7).
Vị trưởng Phái Đoàn giữ Đại Úy Nghị cùng lên xe Sedan về nhà khách của Fort Ord, c̣n Tôn cùng với Đại Úy Moorlick; thiếu tá Kính và đại úy Khuyến lên xe Sedan của căn cứ, cùng nhau về nhà bà Hassinger.
Đây là một căn nhà 3 pḥng xinh xắn, đèn sáng choang, trong Fort Ord. Và Tôn đă gặp Joan, vợ của Hassinger, một thiếu phụ trên 30, tóc vàng như tơ, mắt đen với nụ cười hiền lành, thân h́nh gọn gàng, với 2 tay rộng mở, đón chào Tôn và ôm hôn Tôn:
“Welcome Tôn! Welcom aboard!”
Joan dẫn Tôn đi xem nhà, từ pḥng ngủ đến ga-ra (2 xe du lịch) Ngay tại pḥng khách, trên ḷ sưởi ở chính giữa pḥng, là môt tấm h́nh 18x 24 của Hassinger và Tôn bá vai nhau, ngậm pipe, chụp tại cổng Đồn chu Dron (là Đồn Đức Cơ, cuối Quốc lộ 19 giữa Pleiku và Bokheo) hồi giáng sinh 1962; Hai chiến hữu cấp Tá, 1 Việt 1 Mỹ, cũng đeo kính (cận) râm và để ria mép. Ảnh chụp lúc chiến Đoàn A (dzù) do Thiếu Tá Bùi Kim Kha chỉ huy đă “link up” (giao tiếp) với chiến Đoàn B (T.Q.L.C) của Thiếu Tá Triệu Văn Yên, hoàn tất giải tỏa biên giới Việt Miên(8).

Buổi ăn tối rất thân mật, mặc dù có chút khó khăn về ngôn ngữ và lúc 11.00 giờ đêm, 3 sĩ quan Việt về nghỉ tại nhà khách của Fort Ord.

PLEIKU, tháng 7 / 1963

“Major Hassinger, tôi nhờ bạn gởi về bà Hassinger món quà này “do vợ tôi gởi biếu: 1 bộ áo quần dài VN và thêm cái món lá Huế nữa“ nhưng, nón là chỉ để treo tường thôi nhé.
Chà, đẹp quá. Tôi và Joan rất appreciate.
Bốn tuần lễ sau, Hassinger trao lại cho Tôn tấm h́nh mầu của Joan, chụp tại sân cỏ trước nhà, ở Fort Ord: Joan duyên dáng trong chiếc áo dài, mầu cẩm thạch và chiếc quần Mỹ A, bộ áo quần VN do Cát Vàng gởi tặng, tay cầm chiếc “nón bài thơ.”

PLEIKU, 5 / 11 / 1963

“Hello, Major Hassinger, tôi vừa ở pḥng General Khánh(9) ra. “Bây giờ là 12 g 15. Ông Tư Lệnh muốn tôi có mặt lúc 02.00 PM và “ngồi tại ghế Tham Mưu Trưởng của Sư Đoàn 22 ở Kontum. Bạn kiếm cho tôi 1 HUI/A và đưa tôi lên Kontum để thi hành lệnh.”
“Great! Ai thay bạn tại đây"”
“Đại Úy Vũ Viết Sinh”(4)
. . .
- “Má à! Ông Tướng(9) đưa anh lên Kontum (Sư Đoàn) 22. Vài hôm nữa, anh sẽ về đón em và các con lên sau. Anh đi ngay bây giờ với Hassinger bằng trực thăng. Chiều anh sẽ phone. Hôn em và các con!”

KONTUM, cùng ngày 5 / 11 / 1963.

“Reng! Reng! Reng!”
Tôn đến Kontum bằng trực thăng (có Hassinger) và jeep vừa đón vào Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 22, vừa tŕnh diện xong với Đại Tá Nguyễn Bảo Trị(10) và vừa mới ngồi vào ghế TMT/SĐ.
- “Thưa Thiếu Tá, có Trung Tướng gọi.”
....
“Dạ, thưa Trung Tướng, tôi nghe.”
“Râu đó hả" Tốt! Làm việc đi.”
“Xin tuân lệnh Trung Tướng, và xin cám ơn Trung Tướng.”
Lúc ấy, chiếc đồng hồ treo tường tại pḥng TMT/SĐ 22, chỉ đúng 02.00 giờ chiều.
“Bạn, tôi trở về Pleiku! Good Luck!”
Hassinger từ văn pḥng Cố Vấn Trưởng Sư Đoàn ra, gơ cửa và vào pḥng TMT/SĐ bắt tay Tôn.
“Chào bạn Hassinger. Xin cám ơn bạn rất nhiều và cám ơn pilot. Khi nào viết thư, cho tôi gởi lời chào Joan với nhé!”

PLEIKU, tháng 7 / 1968

“Dạ, Đại Tá Tôn, tôi xin nghe.”
- “Dạ, thưa Đại Tá, Dung(11) đây! Vụ phục kích ở Plei Boy rất ngon. Lát nửa, xin mời Đại Tá lên quan sát (chiến trường).”
- “OK, ông Dung.(11)
Plei Boy là một vị trí chiến lược trên QL. 14 tại ranh liên tỉnh Pleiku-Kontum. Thỉnh thoảng, lợi dụng sự lơ là (") tại liên ranh, cộng quân đă qua lại vùng này. Chẳng qua là Quân Đoàn muốn để CS bị lầm tưởng là “Yên tĩnh”, rồi xử dụng. Thiết Đoàn 2 Kỵ Binh làm vài cú phục kích ngoạn mục, “làm cỏ” đấy.
“Sáu râu, nghe!”
Tiếng máy PRC. 25 vang lên, trong pḥng TMT/Quân Đoàn 2.
”Mời Thẩm Quyền lên đường”
“Xong ngay!”
. . .
“Col Hassinger! Đây là Thiếu Tá Dung(11) Thiết Đoàn Trưởng, Và đây là Trung Úy Tánh(12). Chi Đoàn Trưởng Chi Đoàn I Kỵ Binh. Mời bạn xem chiến lợi phẩm của vụ phục kích đêm qua... Và tôi xin giới thiệu với các bạn, Trung Tá Hassinger, Cố Vấn của tôi năm 1962. Ông ta ghé thăm tôi trước khi về Mỹ nghỉ ngơi, sau “nhiệm kỳ thứ ba này (tại Việt Nam)”.
Lúc ấy, Tôn đă là Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 2.
Đang ngồi, vừa giải quyết công việc tham mưu và vừa theo dơi các báo cáo đặc biệt của Trung Tâm Hành Quân, tại văn pḥng; được Thiếu Tá Dung Báo, Tân liền xuống lầu vào văn pḥng Tham Mưu Cố Vấn, mời Hassinger (vừa lên Pleiku để thăm Tôn trước khi về Mỹ nghỉ) cùng lên jeep và Tôn tự lái, không cần hộ tống, ra khỏi cổng “Thành Pleime” (Bản doanh BTL/Quân Đoàn 2), chạy lên phía Bắc QL.14, đến quan sát tại chỗ chiến công của Đoàn Kỵ Binh xuất sắc của Quân Đoàn: 20 xác VC tại chỗ, 1 đại liên, 2 AT3 và 10 AK. 47.
Sau vụ này và vài chiến công khác, Dung và Tánh đều được “đặc cách vinh thăng tại mặt trận” trong năm (1968), lên 1 cấp nữa.
Chiến trường Cao Nguyên lần hồi sôi nổi... Quân Đoàn 2 mở cửa biên giới, đón tiếp Chiến Đoàn của Tướng Neak Sam (Miên) qua, v́ tái huấn luyện tại Trung Tâm Huấn Luyện Dục Mỹ (Khánh Ḥa)
“Bạn Hassinger à, tôi rất tiếc rằng bạn không ở chơi lâu với tôi được. Tối nay, Cát Vàng sẽ thết bạn món tournedos, có cả Chateau Neuf du Pape(13) mà bạn thích đó.
“Thank you! Sau nhiệm kỳ, chắc tôi sẽ qua Tái Lan.”
“Xin chuyển lời thăm của tôi và Cát Vàng đến Joan và các cháu nhé!”.

SAIGON, đầu tháng 4 / 1975

Huế rồi Đà Nẵng lần lượt bị Bắc Việt chiếm. T́nh h́nh đất nước khá lộn xộn.
“Colonel Tôn ơi, hăy xin phép với Thượng Cấp của bạn cho bạn ‘đi phép một thời gian.’ Tôi đă sẵn sàng 1 chiếc 120 để “chở bạn, Cát Vàng và 6 cháu của các bạn.”
Đầu tháng 4/1975, lúc đang phục vụ tại Phủ Đầu Rồng, Tôn đă nhận được 1 lá thơ “confidential” của Hassinger, lúc ấy làm tham mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Mỹ tại Thái (USMAC-Thai)
Và, Tôn đă trả lời:
” Xin cám ơn bạn. Như tôi đă từng thảo luận với bạn nhiều lần: đây là cuộc chiến của tôi, của người Việt Nam muốn sống c̣n. It’s my War. Xin cám ơn bạn đă nghĩ đến tôi, đến gia đ́nh tôi.”
”Nhưng, “advienne que pourra”(14) và God bless you”.

BẮC VIỆT- TRẠI TÙ “CỐC” NGHĨA LỘ, tháng 10 / 1978

Ngày 30/4/75, Saigon sụp đổ.
Một tháng sau, 2 phi cơ C.119 (chiến lợi phẩm của CS) chở cấp đại tá “tŕnh diện đi tù” từ Tân Sơn Nhất đáp xuống sân bay Nghĩa Lộ, cách Hà Nội nửa giờ bay, trên vùng Thượng Du Bắc Việt.
Một vài đại tá đă lần lượt mệnh chung, vào thời gian này, như quư vị Huỳnh Hữu Ban, Trưởng Pḥng 5 Bộ TTM Nguyễn Bá Th́n tự Long, Tỉnh Trưởng Kontum Lê Minh Luân, Đại diện Không quân cạnh Tổng Cục Tiếp Vận.
. . .
Lúc này Tôn ở cùng “lán” với Đại Tá Nguyển Thành Chuẩn(15) từng là một cấp chỉ huy thâm niên của LLĐB đă bị tù Côn Đảo sao đảo chánh bất thành năm 1960. Tôn nằm kế cận Chuẩn và lúc ấy, mới được biết rằng Hassinger có làm cố vấn cho Chuẩn lúc c̣n ở LLĐB/V 4 CT. Chuẩn cũng đeo kính trắng như Hassinger và Tôn, nhưng không để ria mép cũng như không hút pipe và x́ gà.
Các “tù Saigon” được tập trung đắp đập xây hồ nước tại xă Cẩm Giàng, thỉnh thoảng gặp được đồng bào và đă đau đớn khi nghe:
“Tưởng rằng “các quan” ra giải phóng cho chúng tôi, chứ ai ngờ “các quan lại đi tù!”.
Hoặc “Các người có một thiên đàng mà không biết giữ!”
Thời điểm này, không giống như bé con của các gia đ́nh ở Phủ Tỉnh Gia (Thanh Hóa) th́ rất lể phép, các trẻ con ở Bắc Việt lại văng tục chưởi bới “mày lại dám xoa đầu bố mày à"”

SANTA CLARA, tháng 6 / 1992

Sau gần 13 năm lao tù CS tại Bắc Việt rồi tại Long Khánh (Việt Nam), Tôn cùng gia đ́nh đến được đất Mỹ vào cuối 1991.
Tháng 2/1992, Tôn gởi thơ cho Bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ để t́m kiếm Hassinger. Vài tuần sau, Bộ Quốc Pḥng cho biết đă chuyển thơ đến Hassinger, và chắc chắn Tôn sẽ được tin của Hassinger, qua thơ từ hoặc điện thoại.
“Reng! Reng! Hello, tối muốn được nói chuyện với Đại Tá Tôn.”
“Dạ thưa tôi là Tôn đây”.
....và ở hai đầu dây, hai bạn già, khi nghe tiếng nhau, sau 17 năm bặt tin và xa cách, đă cùng ̣a lên khóc, khóc v́ xúc động, khóc v́ sung sướng được nghe lại tiếng nhau.

SANTA CLARA, đệ nhị lục cá nguyệt 1993.

“Hello, old friend! Tháng 9 này, con (trai) đầu ḷng của tôi cưới vợ. Xin mời hai bạn già qua ăn cưới.”
“Vậy, bạn cho biết là từ “Port Angeles/tiểu bang Washington State, bạn sẽ về đây “bằng xe hơi, hoặc bằng máy bay"”
“OK, tôi sẽ trả lời bạn sau. Có lẽ tôi qua một ḿnh thôi.”
Ngày 17/9/93, Tôn ra phi trường San Jose đón Hassinger. Gia đ́nh Tôn đă sắp xếp mộtpḥng (có pḥng vệ sinh) để bạn nghỉ ngơi ở nhà Tôn (thuê) ở 2058 Hoover Drive.
Hassinger ở lại chơi 3 ngày. Và rất thích thú được dành riêng một pḥng vệ sinh, v́ Hassinger bị “tiểu đường”, và rất khó khăn và lúng túng khi phải đi vệ sinh.
Lúc này, v́ là chỗ thân t́nh, Hassinger bảo Tôn gọi là Bob (từ chữ Robert) cho thân mật hơn. Trong 3 ngày bên nhau, Bob đă tâm t́nh rằng:
”Bob đă ly thân với Joan và Joan đă mất 20 năm nay. Hai con của Bob- Joan nay đều là sĩ quan cao cấp trong Quân Lực HK, đến 1994 th́ sẽ hưu trí: Rick (nam) là 1 Đại Tá Army Aviation (Không Lực Lục Quân) và Jane (nữ) là y sĩ Đại Tá Không Quân. Bob được 2 cháu trai và 2 cháu gái. Cả hai đều ở với gia đ́nh tại Miền Đông và Đông Nam Hoa Kỳ, lâu lâu họ về thăm Bob ở Port Angeles, hoặc Bob phải lái xe đi thăm.
Bob cũng đă tục huyền với Sarint, một thiếu phụ Thái Lan có 2 con gái, đều đă có gia đ́nh và ra riêng: gái đầu, Kim, lấy Roger Nelson Kỹ sư cơ khí Mỹ, và gái Út, Kae lấy Pheng Somsanith 1 kỷ sư điện tử gốc Lào, chưa có con.
Sau 30/4/75, với tư cách là Tham Mưu Trưởng US/Mac. Thai, Bob đă điện cho các cơ quan Mỹ ở khắp nơi, tại Thái Lan và Đảo Guam, c̣n Joan th́ đích thân đến t́m kiếm tại trại Pendleton. Nhưng hoàn toàn bặt tin của Tôn và gia đ́nh Tôn, v́ lúc ấy, Tôn đă “ở tù trong” và gia đ́nh Tôn ở “tù Ngoài”
Tôn cũng nhắc tới Nguyễn Thành Chuẩn(15) lúc c̣n ở tù CS, và kỷ niệm vui là Bob từng là Cố Vấn cho cả hai.
Sáng thứ bảy 18/9/93, Bob “đi họ” bên nhà trai, cùng cụng ly rượu mừng khi con trai và con dâu trưởng của vợ chồng Tôn, trong lễ phục VN đến chúc mừng và dâng ruợu Bob theo phong tục và lễ nghi VN.
Con trai đầu của Tôn năm 1962 ở Pleiku (Việt Nam) mới lên 8 tuổi và năm nay, năm 1993 là một thanh niên khỏe mạnh, với tóc ngắn 1 phân (gợi bao nhiêu kỷ niệm cho Bob và Tôn) là đầu bếp chính (chief cook) của nhà hàng Nhật Nijo Castle tại Pruneyard Shopping Center/Campbell.
Mặc dù rất bận về vụ đám cưới, Cát Vàng đă cho Bob thưởng thức nhiều món ăn lạ miệng, từ xúp măng cua, chạo tôm bún ḅ Huế, mít xúc với bánh tráng mè, carry dê, đến chateau (Pháp) v.v... Bob rất cảm động về sự tiếp đón và tài nấu nướng và luôn miệng khen Cát Vàng là cordon bleu(16) ngoại hạng.
Tối 18/9, Bob dự dạ tiệc cưới, với 330 thân nhân và bạn bè của gia đ́nh Tôn tại nhà hàng Flourishing Garden ở đường Monterey và lúc cùng về lại 2058 Hoover Drive th́ đá quá 12.00 giờ khuya. Hôm sau, Cát Vàng lại thết một bữa “cao lâu” để Bob lót dạ, trước khi Tôn đưa ra phi trường đáp may về lại Port Angeles.
. . .

Các năm kế tiếp, mỗi lần đến ngày sinh nhật của Sarint và Bob, Th́ Tôn gởi hoa biếu, và ngược lại, Bob cũng làm như thế, để mừng sinh nhật của Cát Vàng và Tôn.

SANTA CLARA,
đệ tứ tam cá nguyệt 1994
Nhân ngày Lễ lao động (Mỹ) hôm 5/9/94, gia đ́nh Tôn mời người anh cột chèo qua nhà ăn cơm, rồi Tôn nhận thấy bị đau ran ngực.
Nhớ lại lúc c̣n ở tù CS ở Thượng Du Bắc Việt, rồi ở trại Thanh Phong (Cựu Bắc Trung Việt) Tôn thỉnh thoảng đau như vậy và thường được các thầy, cạo gió và bầu giác cho, th́ hết. Bị nhốt chung với các cha và các thầy, nên, khi đau như thế, Tôn được sự giúp đỡ của Ḥa Thượng Thích Thiện Chánh (tức là Thầy Đặng Minh Tâm, Tuyên Úy của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, trụ tŕ Chùa Thới Ḥa ở G̣ Vấp, là bạn thân của em trai của Tôn. Sau khi ra tù, thầy đă viên tịch ngày 5/12/96, do bệnh tiểu đường), hoặc thầy Thích Thiện Nhẫn (vơ sư đai đen, môn đệ của Ḥa Thượng Thích Hộ Giác).
Lần này, cậu trai Út (1962 là 4 tuổi lúc Bob xin làm con) 36 tuổi xức dầu rồi cạo gió cho Tôn, mà vẫn không hết.
Hôm sau Tôn đến gặp Y sĩ Mạc Đ́a để châm cứu, và Mạc Đ́a có dặn là nên đi đo lại cholesterol.
Sáng 9/9/94, cơn đau trở lại. Tôn đến gặp BS. gia đ́nh là BS. Nicole Thái Đông Phương; Sau khi chẩn bệnh cho Tôn, bác sĩ cho bấm ngay 911 đưa Tôn vào bệnh viện San Jose. Tại đây, tôn được BS Nguyễn Xuân Ngăi cấp tốc định bệnh, rồi sau đó, được danh sư BS. Romine khẩn cấp mổ tim v́ “chỉ c̣n 15% sống thôi”.
Tuần lễ sau, đáng lẽ Tôn được xuất viện; nhưng cả 3 lần Bác Sĩ nhắc nhở, Cát Vàng vẫn quên đem áo quần để Tôn thay (và ra về). Và, vào thời điểm ấy, Tôn bị (đứng tim). Được cấp cứu câp thời, đến trưa 17/9/94. Tôn được “cấy” máy trợ tim A.I.C.D. vào bụng, và sống. Tôn đă nằm viện được 15 ngày.
Ngày 10/10/94, sau khi được tin Tôn bị open heart, và biết được Tôn đă được b́nh yên, Bob cùng Sarint dùng chiếc xe Motor-home, do vợ chồng Kae và Pheng Somsamith lái, từ Port Angeles, qua Seattle, rồi dừng chân tại Redwood City dùng xe hơi (thuê) đến 2058 Hoover Drive (Santa Clara) thăm Tôn, đang trong tháng đầu tiên hồi phục.
Bob có gợi ư là ít lâu nữa, khi đi đứng b́nh thường, Tôn nên đem Cát Vàng lên Port Angeles ở chơi một thời gian với Bob và Sarint. Port Angeles là một thành phố biển ở trước mặt, núi ở sau lưng, ít dân cư chứ không ồn ào như vùng San José, mặc dù lúc ấy Santa Clara c̣n thưa người lắm.
Cho đến mùa thu 2000, Tôn và Cát Vàng vẫn chưa lên chơi Port Angeles được, v́ chưa thuận tiện cho tim của Tôn.

PORT ANGELES
Saturday 23 September 2000, 23.01 PM

From : Kae Nelson
To: Hung Ton (and others)
Hello from Sarint and Bob Hassingerf. Dad is not doing too well. He’s trying his best to stay well. He would like to hear from every one.
Thanks. Kae.

PORT ANGELES
Saturday 21 October 2000, 21:46PM

From: Kim Som Sanith
To: Hung Ton (and others)
Dad just get back from Hospital today. He’s there 3-4 days. He knows who you are, he’s just lost for words, especially name. He lost lots of weight. Bob and Sarint would like to hear from you all. Please write or phone.

Tóm lược điện thơ ngày 23/9 của Kae Nelson và 21/10 của Kim
1. Sarint và Bob xin gởi lời chào (đến các bạn bè). Ba (là Bob) không được khỏe lắm, mà làm ra bộ “là c̣n khỏe”.
2. Ba vừa mới xuất viện. Ba đă ở bệnh viện 3-4 ngày. Ba biết người nói chuyện là ai, nhưng Ba lại mất các chữ thôi, đặc biệt là các “tên” (của bạn) Bob và Sarint mong muốn được “nghe” bạn bè. Xin vui ḷng viết thơ hoặc điện thoại.
. . .
SAN JOSE
“Má ơi, chắc ông Hassinger không qua khỏi đâu.
”81, 82 rồi. Để anh gọi nữa nhé.”
Và, lần thứ tư trong tháng, Tôn bấm số 1-360-452-2030.

Báo VIỆT NAM số 3639
Thứ Tư 25 tháng 10, 2000

PHÂN ƯU

Nhận được tin
Cựu Đại Tá Quân Lực Hoa Kỳ
Robert Wayne Hassinger
Cựu Cố Vấn Tham Mưu BTL/Quân Đoàn 2/QL. VNCH
Cựu Cố Vấn Lực Lượng Đặc Biệt/Vùng 4 Chiến Thuật/QL. VNCH
Cựu Tham Mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh US/MAC- Thái Lan đă văng phần sáng 23 tháng 10 năm 2000 tại Port Angeles (TB. Washington) Hưởng thọ được 81 niên tuế (1919)
Chúng tôi, một số chiến hữu QL/VNCH xin kính cẩn nguyện cầu cho hương linh cựu chiến hữu Hassinger siêu sinh nơi cơi Tịnh Độ. và xin chia buồn cùng Khum Sarint và tang quyến.
Thành kính phân ưu.
Gia đ́nh Nguyễn Thành Chuẩn (San Francisco, Bắc Cali)
Gia đ́nh Tạ Đ́nh Lương(17) (Phoenix, Arizona
Gia đ́nh Vũ Viết Sinh (Pomona, Nam Cali)
Gia đ́nh Tôn Thất Hùng (San Jose, Bắc Cali)

San Jose, tháng 11 năm 2000
Tôn Thất Hùng

(1) Trong thập niên 60, trong toàn Quân Lực VNCH chỉ có 5 sĩ quan để râu (có giấy phép của Bộ TTM/P3): Tướng Kỳ, 2 Không Quân (Hà Xuân Vịnh và ...Trương) 1 công Binh (Nguyễn Văn Bạch) và Tôn.
(2) Trước 1975, Tôn là “1 cây” pipe và x́ gà: 50 cối + (côïng) 25 x́ gà/ngày.
(3) Đầu thế kỷ XIX là nơi mà Vua Gia Long đă dừng chân ở Kon Ha Nung... Kon Hà Nừng: ở phía Đông đồn Mang Buk, và phía Nam Quận Ly Chương Nghĩa (Pleateau G.I) thuộc liên ranh 3 tỉnh Kontum-Pleiku-B́nh Định.
(4) sau này là Trung Tá, 13 năm lao tù CS, hiện ở Pomona, Nam Cali.
(5) Tôn không dùng các ám danh đàm thoại như vài cấp chỉ huy khác (Soleil, mặt trời, đại bàng...) mà tùy theo cấp bậc của mỗi thời gian, khi th́ “Tư râu”, rồi lần hồi “Năm râu” hay “Sáu râu” (Thiếu, Trung, Đại Tá).
(6) Khói (smoke): mầu xanh là “bạn”, mầu đỏ là “địch” mầu vàng là “tản thương”.
(7) Đại Tá Kính, 13 năm lao tù CS, không rơ địa chỉ hiện tại: Đại Tá Khuyến, di tản 1975, hiện ở San Francisco. Thiếu Tá Nghị, không rơ địa chỉ hiện tại.
(8) Đại Tá Bùi Kim Kha, không rơ địa chỉ hiện tại: Trung Tá (") Triệu Văn Yên, đă mất (") trước 30/4/75 (")
(9) Lúc ấy là Trung Tướng Nguyễn Khánh. Hiện, Đại Tướng ở Sacramento.
(10) Sau hết là Trung Tướng, hiện định cư ở Nam Cali.
(11) sau này, là Đại Tá, Tư Lệnh Lữ Đoàn 2 Kỵ Binh, 13 năm lao tù CS, hiện đă định cư tại Mỹ.
(12) sau hết, là Trung Tá, không rơ địa chỉ định cư ở Mỹ
(13)Tourne dos: steak ḅ, có da heo (lộn ngược) bọc quanh (món ăn Pháp) chateau neuf du pape: rượu chát đỏ Pháp.
(14) từ ngữ Pháp: mặc kệ cho xảy ra chuyện ǵ (Hassinger biết tiếng Pháp).
(15) nay định cư tại San Francisco
(16) Cordon bleu: đầu bếp lành nghề (từ ngữ Pháp)
(17) Sĩ quan Kỳ Cựu Quân Đoàn 2. Khi tàn cuộc chiến là Trung Tá cấp Trưởng Pḥng tại BTL/SD 25. 13 năm lao tù CS, thường sưởi ấm bạn đồng tù với giọng ca nhẹ nhàng và điêu luyện.